Email

info@ckjvn.vn

Điện thoại

(+84) 24 3762 4555

Địa chỉ

Tầng 29, Tháp Đông, 2901 Lotte Center Hà Nội, 54 Liễu Giai, P. Ngọc Hà, TP. Hà Nội, Việt Nam.

BÀN VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA TẬP CHỈ DẪN KỸ THUẬT TRONG HỒ SƠ CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG GIAO THÔNG HIỆN NAY

Đặt vấn đề.      Nghị định 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng […]
ngoc-nth09
9 Tháng 10, 2024
  1. Đặt vấn đề.

     Nghị định 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng quy định bắt buộc thực hiện lập chỉ dẫn kỹ thuật đối với công trình cấp đặc biệt, cấp I và cấp II. Nội dung của Chỉ dẫn kỹ thuật phải phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng cho công trình xây dựng được phê duyệt và yêu cầu của thiết kế xây dựng công trình Theo quy định Chỉ dẫn kỹ thuật là cơ sở để thực hiện giám sát thi công xây dựng công trình, thi công và nghiệm thu công trình xây dựng.

     Như vậy, Tư vấn lập dự án phải căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến dự án như các bộ Luật, Nghị định, Thông tư, Quy chuẩn kỹ thuật và Danh mục các Tiêu chuẩn được phê duyệt hoặc chấp thuận áp dụng cho dự án cùng hồ sơ Thiết kế đã được phê duyệt và các yêu cầu về quản lý chất lượng của chính các hạng mục của gói thầu, các yêu cầu tham chiếu của hồ sơ mời thầu, của điều kiện hợp đồng … để biên soạn tập hồ sơ này làm căn cứ cho công tác quản lý, giám sát, kiểm soát chất lượng trong quá trình thi công, làm cơ sở pháp lý cho công tác nghiệm thu bàn giao, quản lý bảo trì khai thác…

     Thuật ngữ Technical Specification dùng cho hồ sơ mời thầu dự án xây dựng công trình bắt buộc phải có đối với dự án sử dụng nguồn vốn nước ngoài đúng ra phải được chuyển ngữ sang tiếng Việt là Quy định kỹ thuật, Điều kiện kỹ thuật …thi công nghiệm thu vì nó là một văn bản quy phạm pháp luật đối với dự án nhưng các nhà soạn thảo văn bản pháp quy lại vẫn đang sử dụng nhóm từ Chỉ dẫn kỹ thuật.

     Trong nhiều dự án xây dựng công trình giao thông hiện nay, do các bên liên quan không căn cứ vào Luật Chất lượng sản phẩm và hàng hóa (Luật số 05/2007/QH12) và các Nghị định, Thông tư liên quan nên các nội dung trong tập Chỉ dẫn Kỹ thuật Thi công Nghiệm thu của nhiều dự án thường được chép lại hầu hết nội dung của một bản “Technical Specification” của một dự án nào đó sử dụng nguồn vốn vay của nước ngoài và đã đưa ra những quy định pháp lý trái với các văn bản pháp quy liên quan của Việt Nam.

     Xin được lấy nội dung được biên soạn liên quan đến Phòng thí nghiệm và thử nghiệm; Chấp thuận đối với Thép xây dựng, Lưới thép hàn; Cốt thép; Phụ gia cho bê tông; Gối cầu … trong tập Chỉ dẫn kỹ thuật Thi công và Nghiệm thu của các dự án xây dựng đường cao tốc Bắc Nam, Vành đai 3 của TP Hồ Chí Minh, cầu Hòa Sơn … để dẫn chứng cho nhận định trên.

  1. Một số ví dụ cụ thể    

     2.1 Phòng thí nghiệm và thử nghiệm 

      Phòng thí nghiệm và thử nghiệm của Nhà thầu tại hiện trường là để phục vụ một hoặc một số hạng mục cụ thể của gói thầu của chính dự án được triển khai thi công.

     Việc liệt kê “Trang bị chính cần có” để tiến hành các thí nghiệm bao gồm: thí nghiệm đất, vật liệu làm móng áo đường, bê tông nhựa và hỗn hợp nhựa, bê tông xi măng và các trang bị kiểm tra hiện trường như đã liệt kê trong nhiều dự án liệu có đúng và đủ chưa? Các yêu cầu này đã căn cứ vào đâu?

     Không những thế, sau khi liệt kê “Trang bị chính cần có” lại còn khẳng định đó là “… những thiết bị thí nghiệm yêu cầu tối thiểu cần phải huy động ở mỗi trạm trộn asphalt tại hiện trường” (!?). Tại sao “ở mỗi trạm trộn asphalt tại hiện trường” lại còn phải có cả các thiết bị thí nghiệm đối với bê tông xi măng” (?), với cốt thép, gối cầu …. Thậm chí còn đến mức “Mỗi Thí nghiệm phải được tiến hành … theo chỉ đạo trực tiếp của Tư vấn giám sát” (!?).

     Về yêu cầu đối với tần suất thí nghiệm, các tập Chỉ dẫn kỹ thuật này thường quy định “số lượng thí nghiệm thực hiện phải phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sử dụng cho dự án và các quy định ở bảng dưới đây”.

Thế nhưng, theo các Luật, Nghị định hiện hành thì Qui định này chỉ phù hợp đối với các vật liệu thành phần được nhà thầu được khai thác tại chỗ như đất, cát, đá, sỏi … mà thôi.

Nghị định 06/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng đã quy định đối với vật liệu xây dựng thành phẩm (đã là hàng hóa trên thị trường), vật liệu thương phẩm, sản phẩm, cấu kiện và thiết bị sử dụng cho công trình xây dựng thì  nhà sản xuất, bên cung cấp sản phẩm … phải Tổ chức thực hiện thí nghiệm kiểm tra chất lượng và cung cấp cho bên giao thầu (bên mua sản phẩm xây dựng) các chứng chỉ, chứng nhận, các thông tin, tài liệu có liên quan tới sản phẩm xây dựng, vật liệu xây dựng  (mục a khoản 1 Điều 12).  Khoản 3 của Điều 12 này còn nhấn mạnh việc nghiệm thu của bên giao thầu không làm giảm trách nhiệm nêu trên của các nhà thầu này.

     Còn Điều 4. Thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, quan trắc, trắc đạc công trình và Điều 13 Trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng của Nghị định 06/2021 cũng đã được Bộ XD hướng dẫn trong Thông tư số 10/2021 ngày 25/8/2021. Điều 2. Quản lý công tác thí nghiệm trong quá trình thi công xây dựng của Thông tư  này  xác định “Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ thiết kế, các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng cho dự án, chỉ dẫn kỹ thuật và quy định của hợp đồng xây dựng để lập kế hoạch tổ chức thí nghiệm. Nội dung chủ yếu của kế hoạch tổ chức thí nghiệm bao gồm: đối tượng thí nghiệm (vật liệu, cấu kiện, kết cấu công trình, thiết bị công trình), các phép thử tương ứng và thời điểm thí nghiệm dự kiến; phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng được sử dụng. Nhà thầu thi công xây dựng có quyền yêu cầu chủ đầu tư và nhà thầu thiết kế xây dựng cung cấp thông tin, tài liệu và làm rõ các nội dung liên quan trong quá trình lập kế hoạch tổ chức thí nghiệm.

     Như vậy, việc quyết định đối tượng thí nghiệm là trách nhiệm của nhà thầu chứ không phải của tư vấn soạn thảo tập Chỉ dẫn kỹ thuật. Khi nhà thầu xây dựng đã biết rõ nội dung của Khoản 3 của Điều 12 của Nghị định 06/2021 vềviệc nghiệm thu của bên giao thầu (tức là nhà thầu xây lắp) không làm giảm trách nhiệm nêu trên của các nhà thầu (cung cấp vật liệu, cấu kiện, kết cấu công trình, thiết bị công trình) này thì họ sẽ chỉ lựa chọn những đối tượng thí nghiệm nào liên quan đến trách nhiệm của họ mà thôi. Ngay cả Chủ đầu tư cũng không có trách nhiệm chỉ đạo Tư vấn và phê duyệt nội dung này trong tập Chỉ dẫn kỹ thuật.

Còn ở góc độ khác, khoản 1 Điều 28 của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa quy định: Điều kiện bảo đảm chất lượng sản phẩm trong sản xuất trước khi đưa ra thị trường :

Người sản xuất phải thực hiện các yêu cầu về quản lý chất lượng sản phẩm trong sn xuất như sau:
a) 
Áp dụng hệ thống quản lý nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm do mình sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.                                                     

b) Công bố tiêu chuẩn áp dụng quy định tại Điều 23 của Luật này và ghi nhn theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa.

     Do vậy, các quy định về thí nghiệm đối với các vật liệu mà Nghị định 06/2021/NĐ-CP xác định “đã là hàng hóa trên thị trường” như xi măng, sắt thép, thép dự ứng lực, phụ gia bê tông, nhựa đường … cũng như các “sản phẩm, cấu kiện kết cấu công trình, thiết bị công trình… (nếu có)” trong Mục 01400 của các Tập Chỉ dân kỹ thuậtcần phải được loại bỏ.

     Ngay cả các Tiêu chuẩn mà Tư vấn soạn thảo lấy làm căn cứ để quy đinh “số lượng thí nghiệm thực hiện phải phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sử dụng cho dự án và các quy định ở bảng dưới đâycũng đã được biên soạn và công bố theo nội dung quy định của các văn bản Luật và Nghị định nói trên.

     2.2 Điều kiện chấp nhận liên quan đến sản phẩm thép xây dựng

     Trong các Tập Chỉ dẫn kỹ thuật, tại các mục liên quan đến việc chấp nhận các sản phẩm như Thép xây dựng, Lưới thép hàn, Cốt thép … đưa vào công trình, Tư vấn soạn thảo thường quy định “ngoài Thí nghiệm Phân tích thành phần hóa học yêu cầu 1 mẫu/nguồn cung cấp- Kiểm tra tần suất theo chứng chỉ NSX”, còn “Thử các tính chất khác” đều yêu cầu phải lấy “15mẫu/lô hàng (nhỏ hơn 50T)” (để nhà thầu tiến hành thí nghiệm) theo TCVN1651:2018 tuân thủ quy định “số lượng thí nghiệm thực hiện phải phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sử dụng cho dự án… và “Mỗi Thí nghiệm phải được tiến hành … theo chỉ đạo trực tiếp của Tư vấn giám sát”. và còn ghi rõ “Nhà thầu chỉ thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lí như kéo, uốn, nén … với tần suất theo mục 01400”

     Thế nhưng, theo TCVN 1651:2018 được viện dẫn ở trên thì việc thử các tính chất khác (cơ tính) đối với thép) lại phải theo TCVN 7937-1:2013. Nhưng điều ấy cũng không quan trọng mà cái chính là TCVN 1651:2018 cũng như TCVN 7937-1:2013 và các Tiêu chuẩn liên quan TCVN 16511, Phần 1: Thép thanh tròn trơn CVN 1651-3 (ISO 6935-3), Phần 3: Lưới thép hàn… trong đó yêu cầu liên quan đến công tác thí nghiệm đối với không những thành phần hóa học mà còn cả với các tính chất cơ học là yêu cầu bắt buộc đối với nhà sản xuất. Mục 11.3.3 khoản d của TCVN 1651:2018 quy định: Nhà sản xuất phải cung cấp một bản báo cáo kết quả thử chứng tỏ rằng các sản phẩm cung cấp thoả mãn các tính chất hoá học và cơ học được quy định trong các Điều 6 (Thành phần hóa học) và Điều 7 (Cơ tính) và một bản khẳng định rằng các yêu cầu khác của tiêu chuẩn này cũng được thoả mãn”.

     2.3 Điều kiện chấp nhận liên quan đến phụ gia bê tông

     Vì sao trong tập Chỉ dẫn kỹ thuật của các dự án lại quy định “Phụ gia tăng dẻo phải là chủng loại được Tư vấn giám sát chấp thuận và tuân thủ các quy định trong TCVN 8826-2011: Phụ gia hóa học cho bê tông”? Đã phải tuân thủ các quy định trong TCVN 8826-2011 mà vẫn còn phải được Tư vấn giám sát chấp thuận về chủng loại? Trong khi đó, 5 loại phụ gia được đề cập trong TCVN 8826-2011 cũng không hề có loại phụ gia nào là “phụ gia tăng dẻo” cả. Vậy phụ gia tăng dẻo phải là chủng loại được Tư vấn giám sát chấp thuận sẽ là chủng loại nào và căn cứ vào văn bản pháp quy kỹ thuật nào? Tại sao “Phụ gia tăng dẻo không được phép sử dụng đồng thời với các phụ gia khác trong cùng 1 cấp phối trừ khi có sự chấp thuận của Tư vấn giám sát”? v.v, và v.v.

     Còn nữa! Tại sao cũng ở Mục 07100 lại còn có quy định “Các chất phụ gia giảm nước, chậm giảm nước, phụ gia chống ăn mòn và các chất phụ gia hóa dẻo, chậm đông cứng theo TCVN8826-2011 có thể được sử dụng nếu có văn bản cho phép của cấp có thẩm quyền, tuân thủ các cấp phối và yêu cầu về độ sụt được Tư vấn giám sát phê chuẩn”?

     Tương tự với “Vữa bơm ống gen” mục 7110. Tại sao đã yêu cầu vữa bơm ống gen phải tuân thủ “Các yêu cầu kỹ thuật của vữa chèn ống gen tuân theo bảng 1 của TCVN 11971:2018” mà còn thêm quy định “Chỉ bao gồm xi măng Porland, nước và phụ gia dãn nở được Tư vấn giám sát chấp thuận” trong khi mục Vật liệu của TCVN 11971:2018 đã quy định rõ các yêu cầu đối với thành phần của vữa bơm ống gen gồm xi măng, nước, phụ gia?

     2.4 Điều kiện chấp nhận các loại gối cầu

     Như trên đã đề cập, các Tiêu chuẩn TCVN10308:2014 đối với gối cầu cao su cốt bản thép không có tấm trượt trong cầu đường bộ và TCVN 10269: 2014: Gối cầu kiểu chậu – Phương pháp thử … (mà các Tư vấn soạn thảo vẫn lấy làm căn cứ để đưa ra quy định về thí nghiệm của nhà thầu xây dựng) cũng đã được biên soạn và công bố theo nội dung quy định của các văn bản Luật và Nghị định nêu trên.

     Mục 6.6 của Tiêu chuẩn TCVN10308:2014 qui định: Trong xưởng chế tạo gối, cần phải tổ chức nghiệm thu bằng cách: chọn loại gối cầu có kích thước cơ bản giống nhau, tính chất cơ lý của vật liệu cao su giống nhau, cùng loại keo dán, cùng điều kiện lưu hóa cao su và quy trình công nghệ, xếp thành từng lô không quá 30 gối.

Trong một lô cần chọn ra 5 gối để tiến hành kiểm tra theo các nội dung sau:

a) Tính chất vật lý, hóa học, cơ học của vật liệu cao su và gối cầu cao su theo Bảng 1;

b) Các kích thước cơ bản của gối cầu theo Hình 1, bề dày lớp cao su bảo vệ (C).” …

     Rõ ràng quy định thí nghiệm kiểm tra chất lượng để nghiệm thu gối cầu được đề cập trong TCVN10308:2014 là nhiệm vụ của nhà sản xuất. Thế mà trong hầu hết hồ sơ mời thầu của các dự án hiện nay, Tư vấn soạn thảo Chỉ dẫn kỹ thuật vẫn bắt nhà thầu phải tiến hành tất cả những gì mà nhà sản xuất đã làm trước khi cung cấp gối cho nhà thầu?

Tương tự đối với TCVN 10269: 2014: Gối cầu kiểu chậu – Phương pháp thử

Xin được trích nguyên văn mục 5 của Tiêu chuẩn này

5. Lấy mẫu

5.1. Lấy mẫu thử sẽ được tiến hành trên một lô cơ sở.

5.2. Một lô sẽ bao gồm các gối được sản xuất trong một ngày hoặc một thời gian qui định.

5.3. Một lô sẽ không được vượt quá 25 gối.

5.4. Một lô sẽ bao gồm các gối chậu của cùng một loại và có thể có khả năng chịu lực thẳng đứng khác nhau. Các loại gối chậu là gối chậu cố định hoặc gối chậu di động.

5.5. Ngoại trừ khi có chỉ dẫn của hợp đồng hoặc yêu cầu của khách hàng, số lượng mẫu thử ứng với các ch tiêu thử nghiệm theo quy định tại Bảng 1.

Bảng 1: Ch tiêu th nghiệm và số lượng mẫu thử

5.6. Mẫu thử nghiệm, trước khi tiến hành thử nghiệm mẫu phải được kiểm tra bng mắt để đánh giá tình trạng của các bộ phận cấu tạo gối và độ sạch của bề mặt gối(hết trích).

     Như vậy, cũng như đối với gối cầu cao su cốt bản thép, các loại gối chậu trước khi cung cấp cho khách hàng cũng đã được nhà sản xuất tiến hành thí nghiệm theo TCVN 10269: 2014. Thế mà trong hầu hết hồ sơ mời thầu của các dự án hiện nay, Tư vấn soạn thảo Chỉ dẫn kỹ thuật vẫn bắt nhà thầu phải tiến hành tất cả những gì mà nhà sản xuất gối chậu đã phải làm trước khi cung cấp gối cho nhà thầu?

     Bản thân tôi từ những năm chín mươi của thế kỷ trước cho đến những năm đầu của thế kỷ XXI đã từng thừa lệnh Bộ trưởng bộ GTVT ký công văn trả lời rất nhiều nhà thầu khi xảy ra trường hợp Chủ đầu tư, Tư vấn giám sát đưa ra những yêu cầu vô lý bắt nhà thầu phải tiến hành thí nghiệm để xác định các tính chất vật lý, hóa học, cơ học của vật liệu cao su và gối cầu cao su. Mặc dù lúc đó chưa có Luật nhưng cũng đã có Pháp lệnh về chất lượng hàng hóa và đã có quy định nhà sản xuất phải công bố tiêu chuẩn hàng hóa và công bố sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn để tôi lấy làm cơ sở pháp lý bác các yêu cầu vô lý này của các chủ đầu tư, tư vấn giám sát.  

     Hoặc đối với dự án xây dựng cầu Thuận Phước cũng xảy ra trường hợp tương tự khi Ban QLDA và Tư vẩn giám sát trưởng yêu cầu nhà cung cấp cáp chủ phải tổ chức thí nghiệm mỏi của cáp chủ để họ chứng kiến mà không hình dung được chi phí thí nghiệm mỏi đối với cáp chủ còn cao hơn chi phí mua cáp.

       3. Kết luận và kiến nghị

Các dẫn dụ nêu ở mục 2 trên đây chỉ mới là một số ví dụ liên quan đến một số nội dung được quy định trong các tập Chỉ dẫn kỹ thuật của các dự án xây dựng giao thông hiện nay đối với các công trình cấp II trở lên sử dụng nguồn vốn trong nước. Những quy định này đều trái với yêu cầu của các văn bản pháp quy kỹ thuật liên quan của Việt Nam. Điều này không những làm cho công tác quản lý chất lượng, kiểm soát và giám sát chất lượng các công trình xây dựng trở nên phức tạp, chồng chéo, đa chủ thể dẫn đến tình trạng không có chủ thể nào chịu trách nhiệm chính. Hậu quả của các quy định trái luật này làm phát sinh nhiều chi phí phụ không cần thiết, gây lãng phí và thất thoát trong đầu tư công và đến khi chất lượng công trình có vấn đề thì không có ai chịu trách nhiệm khắc phục, xử lý hay đền bù. Do vậy, những quy định trái luật này cần được các cơ quan chức năng xem xét và sửa đổi hoặc loại bỏ.

Xin cảm ơn!

PGS. TS. TỐNG TRẦN TÙNG – Tổ cố vấn kỹ thuật của Bộ trưởng Bộ GTVT

Đã gửi đến chúng tôi bài viết này!